LỊCH SỬ TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH KHAI

Mỹ Độ là một vùng đất cổ, nằm sát bờ sông Thương, ngã ba của sông Bắc Cầu (ngòi Đa Mai) đổ vào sông Thương, trên đường quốc lộ 1A từ Hà Nội đi Lạng Sơn. Xưa kia, nơi đây có nhà trạm và công quán, nơi đưa đón dừng chân của các đoàn sứ bộ phương Bắc vào Thăng Long và các đoàn sứ thần của nước ta sang Trung Quốc. Thiên nhiên Mỹ Độ hài hoà và thơ mộng, con người Mỹ Độ hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, kiên cường bất khuất trong chiến đấu, thủy chung nghĩa tình trong cuộc sống.

Suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cán bộ, đảng viên và nhân dân Mỹ Độ đã vượt qua bao gian nan, thử thách vừa chiến đấu vừa sản xuất, đóng góp sức người, sức của cùng với nhân dân cả nước lập nên bao chiến công oanh liệt, góp phần làm rạng rỡ pho sử vàng của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử trường tiểu học Minh Khai phường Mỹ Độ có bề dày từ những năm Bắc thuộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng trưởng thành cho đến nay . Để biên soạn cuốn truyền thống trường tiểu học Minh Khai này, chúng tôi đã sử dụng những tài liệu lưu trữ từ những năm trước đây của Đảng bộ, của nhà trường và tư liệu do các đồng chí cán bộ, giáo viên cao tuổi cung cấp, ngoài ra chúng tôi có sử dụng tư liệu của Cuốn lịch sử Đảng bộ phường Mỹ Độ thành phố Bắc Giang. Mặc dù trong biên tập đã có nhiều cố gắng, song không sao tránh khỏi thiếu sót. Để cuốn sách hoàn chỉnh hơn, Ban giám hiệu nhà trường rất mong nhận được ý kiến tham gia góp ý của cán bộ, giáo viên viên, nhân dân trong phường và bạn đọc gần xa.

Nhân dịp này, thay mặt Chi bộ trường tiểu học Minh Khai chúng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo phường và các cựu giáo chức đã công tác tại địa phương và toàn thể cán bộ, giáo viên và nhân dân ở trong phường đã giúp đỡ, tạo điều kiện hoàn thành cuốn sách này.

MỞ ĐẦU

MỸ ĐỘ - VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ

 

1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

Mỹ Độ là một trong số 11 phường, xã thuộc thành phố Bắc Giang - tỉnh Bắc Giang, nằm ở phía tây nam thành phố Bắc Giang. Phía bắc giáp xã Đa Mai có ngòi Đa Mai là ranh giới, phía nam giáp xã Song Khê và xã Đồng Sơn huyện Yên Dũng, phía đông giáp sông Thương, bên kia sông là phường Trần Phú, Lê Lợi, phía tây giáp xã Tân Mỹ huyện Yên Dũng.

Mỹ Độ là một vùng đất cổ, nằm sát bờ sông Thương, ngã ba của sông Bắc Cầu (ngòi Đa Mai) đổ vào sông Thương, trên đường 1A từ Hà Nội đi Lạng Sơn. Xưa kia, nơi này có nhà trạm và công quán, nơi đưa đón dừng chân của các đoàn sứ bộ phương Bắc vào Thăng Long và các đoàn sứ thần của nước ta sang Trung Quốc.

Qua quá trình lịch sử, địa danh Mỹ Độ có nhiều thay đổi. Thời Lý, Trần (1225-1400), Mỹ Độ thuộc đất tổng Cổ Dũng huyện Yên Dũng, Thời Lê – Nguyễn (1428-1788), Mỹ Độ thuộc xã Mỹ Cầu, tổng Mỹ Cầu, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, trấn Kinh  Bắc. Tổng Mỹ Cầu lúc này bao gồm các xã Mỹ Cầu, Phụng Công, Ngọc Lâm, An Khê và Á Lữ. Theo lời chỉ dẫn ghi trên chuông chùa Như Nguyện của làng niên hiệu Thiệu Trị ngũ niên (1845) thì đơn vị hành chính của Mỹ Độ lúc này là thôn Trung Độ xã Mỹ Cầu tổng Mỹ Cầu huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang gồm hai thôn Trung và Ngoại.

Từ đời vua Thành Thái năm thứ hai (1890) thôn Trung Độ được nâng lên thành một xã độc lập thường gọi tên nôm  là làng Đò với 3 thôn: Cảnh Khê, Ngoài và Trong (bản sao tục lệ năm 1935 lưu tại trung tâm KHXH  Hà Nội).

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đơn vị hành chính cũ (xã, tổng, phủ, huyện) giải tán, đơn vị hành chính mới ra đời, Mỹ Độ thuộc xã Tân Mỹ huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xã Tân Mỹ lúc đó gồm các làng Mỹ Độ, Mỹ  Cầu, Ngọc Lâm, Phụng Pháp, Đông Lý, làng Chùa và làng Nác.

Trong kháng chiến chống Pháp, thời gian bị địch chiếm đóng (7/1949-8/1954) thực dân Pháp lập quận Mỹ Độ nằm trong phân khu quân sự Phủ Lạng Thương, về hành chính thuộc về quận Lạng Giang.

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, sau năm 1954 Mỹ Độ tách khỏi xã Tân Mỹ  và trở thành khu phố Mỹ Độ một trong hai đơn vị hành chính của thị xã Phủ Lạng Thương (khu phố Mỹ Độ và khu phố Hoà Bình).

Ngày 1-10-1959 theo Nghị định số 352- TTg của Hội đồng Chính phủ, thị xã Phủ Lạng Thương được đổi tên thành thị xã Bắc Giang gồm 12 tiểu khu Tân Cầu, Lò Trụ, Mỹ Độ làng, Mỹ Độ phố, Tiền Giang, Dân Chủ, Lê Lợi, Á Lữ, Hoàng Hoa Thám, Hoà Bình, Quang Trung và Thùng Đấu; trong đó có 4 tiểu khu thuộc Mỹ Độ: Tân Cầu, Lò Trụ, Mỹ Độ làng, Mỹ Độ phố.

Từ sau năm 1975, các tiểu khu trên hợp nhất thành 5 khu hành chính: Mỹ Độ, Ngô Quyền, Lê Lợi, Trần Phú và Phân Đạm. Đến năm 1981 các tiểu khu được đổi tên thành phường. Phường Mỹ Độ trở thành phường Minh Khai. Năm 1989 theo quyết định của Hội đồng nhân dân thị xã Bắc Giang phường Minh Khai trở về với tên cũ: phường Mỹ Độ.

Từ ngày có đường sắt chạy qua, Mỹ Độ chia làm hai khu vực rõ ràng: ngoài phố và trong làng.

Phố Mỹ Độ còn có các xóm: Trụ, Lò, Lẫm, Vòng....trong làng Mỹ Độ có các xóm: Dinh, Giữa, giếng Đất, Giếng Đá, Vườn Hồng, Gốc Duối, Bãi Trạm, Bãi Quan, Xóm Soi, Đồng Cuối. Hiện nay phường Mỹ Độ có 4 tổ dân phố phố (1,2,3 và 4).

2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

2.1- Diện tích đất đai theo thống kê  năm 1998.

Mỹ Độ có tổng diện tích tự nhiên 162,67ha

Trong đó:- Đất Nông nghiệp:  51,97 ha

        - Đất ở:  26,47ha

        - Đất ao hồ: 32,9 ha

        - Đất giao thông, thuỷ lợi, xây dựng: 29,08 ha

       - Đất trụ sở cơ quan, nghĩa trang, nghĩa địa và đất chưa sử dụng: 2,25 ha

 Năm 1994, theo Nghị định số 103/CP của Chính phủ cắt 6ha đất và 1889 nhân khẩu của phường Mỹ Độ thuộc khu dân cư đường 284 nhập vào xã Đa Mai.

Cũng như một số xã, phường khác của thành phố Bắc Giang, Mỹ Độ nằm ở vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng Bắc Bộ với vùng trung du miền núi phía Bắc, nên đất đai địa hình thuộc vùng bán sơn địa, xen kẽ giữa các dải đất cao và vùng trũng.

Do Mỹ Độ nằm ở ngã ba của ngòi Đa Mai chảy vào sông Thương, lại có đường xe lửa và đường quốc lộ 1A chạy qua nên việc đắp đê làm đường đã để lại thành nhiều ao hồ, thùng vũng. Diện tích ao hồ hiện nay là 32,9 ha chiếm 20 % tổng diện tích.

Đất nông nghiệp nhìn chung chia ra làm hai vùng: Vùng cao cấy lúa 1 vụ và trồng màu, vùng thấp thường chỉ cấy một vụ lúa.

Mỹ Độ nằm trong khu vực ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa vừa phải, sương muối ít. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,30C. Mùa Đông thường kéo dài từ tháng mười đến tháng ba năm sau, tháng giêng nhiệt độ trung bình khoảng 160-16030. Mùa hè từ tháng tư đến tháng chín. Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 82%, lượng mưa trung bình là 1533mm, số ngày có mưa trong năm là 121. Mưa phùn thường diễn ra từ  đầu mùa đông, tập trung vào tháng hai, tháng ba, số ngày mưa phùn trung bình /năm là 26 - 28 ngày, số giờ nắng trung bình năm là 1579 giờ 

Vớikhí hậu trên, có nhiều thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp .

      3. DÂN CƯ VÀ ĐỜI SỐNG KINH TẾ:

3.1- Dân cư:

Vào cuối thời Lê Mạc, Mỹ Độ chưa thành làng mà chỉ là phần đất hoang vu, có 1 tuần ty lèo tèo vài lều hàng cơm quán trọ. Phía cửa chùa có một trạm thư: Trạm Bắc Mỹ, liên lạc với trạm Bắc Cầu ( Kép ) và Đáp Cầu.

Nhận thấy nơi đây là nơi đất đẹp, cảnh vật tốt tươi, có dòng sông trên bến dưới thuyền, là đầu mối giao thông thuận tiện cho việc làm ăn buôn bán, nên một số hộ gia đình ở Mỹ Cầu , Phụng Pháp và một số cư dân nơi khác đến đây khai sơn lập nghiệp làm ăn sinh sống.

Ngày trước, đường thiên sứ đi qua làng Đò, sứ thần đều phải dừng chân ở Bãi Trạm để sau đó qua sông Thương đi Lạng Sơn. Người ta cũng nói rằng Giếng Đá, Giếng Đất của làng Đò là 2 mắt của Thần long. Con gái làng ra đó múc nước về ăn cứ xinh đẹp ra nên vua quan thời phong kiến rất yêu thích các cô gái làng Đò. Hai giếng này ngày nay không còn vì các cụ bảo ngày xưa không rõ khi nào có tên tướng Tần cho ngựa uống nước đó rồi cả hai lộn xuống giếng chết, dân sợ giặc trả thù bèn cho lấp đi. Còn xóm Vườn Hồng gần điếm Dinh có họ Hà, con gái cũng xinh đẹp chẳng kém.

 Sự hình thành các dòng họ: Đến giữa thời Lê Trịnh nơi đây đã hình thành làng phố và có các dòng họ như họ Ngô, Phan, Hoàng, Đỗ và họ Hà. Bốn họ Ngô, Phan, Hoàng, Đỗ lập thành 4 giáp. Giáp Đông, Giáp Tây, Giáp Bắc, Giáp Trung. Còn họ Hà về sau đi đâu cả không rõ chỉ còn tên họ trên bia đá.

Sau đó nhiều người thuộc nhiều họ khác nhau ở nhiều nơi đến định cư làm ăn sinh sống ở Mỹ Độ, hoà nhập với dân làng thành một cộng đồng dân cư đoàn kết cùng nhau xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.

   3.2 - Về dân số :

Theo điều tra dân số của chính quyền thực dân Pháp và theo Bắc Giang Địa chí thì năm 1927 Mỹ Độ thuộc Mỹ Cầu gồm 2 thôn , thôn Trung và thôn Ngoại có số dân là 895 người. Vào tháng giêng năm 1959 thời kỳ thị xã Bắc Giang gồm 12 tiểu khu( chưa có xã Đa Mai, Thọ Xương) dân số có 10.330 người trong đó :

Mỹ Độ làng có 573 người

Mỹ Độ phố có 942 người

Xóm Lò Trụ có 590 người

Tân Cầu ( Tân Thành + Cầu Tre) có 958 người.

Đến 31/12/1999 sau khi cắt 6ha đất và 1899 nhân khẩu về Đa Mai năm 1994, Mỹ Độ có diện tích 162,67 ha, có 1324 hộ với 5079 nhân khẩu. Năm 2006 có 1495 hộ với 5127 nhân khẩu. Đến tháng 4 năm 2009 có 5324 nhõn khẩu.

    3.3 - Về Kinh tế:

Mỹ Độ vốn là 1 làng nằm bên bờ sông Thương và bến Mỹ Cầu nên người dân ở đây chủ yếu sống bằng làm ruộng, trồng hoa mầu kết hợp với làm nghề hàng xáo, chạy chợ buôn bán. Đó là làng bán nông, bán thương có nhiều người làm việc trong các cơ quan nhà nước.

Ngoài việc cấy lúa , nuôi gia cầm, thả cá, trồng sen, nhân dân Mỹ Độ còn trồng rau mầu, trồng lạc ở đồng Dơ, trồng thuốc lào ở Đồng Khoai, Đồng Lều. Có lẽ vì thế mà nhiều người trong làng Mỹ Độ trong đó có cả phụ nữ nghiện và biết hút thuốc lào.

Từ sau ngày hoà bình lập lại, đến nay sản xuất nông nghiệp đã được Đảng, chính quyền, Hội nông dân quan tâm, khoa học kỹ thuật được phổ biến rộng rãi, xây dựng được hệ thống mương máng, trạm bơm Cống Bún nên sản xuất nông nghiệp ngày một phát triển, tiến bộ.

Dân Mỹ Độ phần đông làm nghề hàng xáo, họ mua  thóc về xay  giã sau đó cân gạo cho hiệu Bỉnh Kỷ, Đào Ký, chả thế mà từ lâu đã có câu ca: “Đít Đa Mai, vai làng Đò” cho thấy dân làng Mỹ Độ đã biết  kết hợp làm ruộng với buôn bán từ lâu đời.

Mỹ Độ còn nổi tiếng với nghề ướp trà sen và nấu chè kho ( chè đỗ đãi ). Những đám tiệc tùng, cưới xin, lễ hội, ngày tết không thể thiếu được món đặc sản này.

Từ ngày hoà bình thống nhất đất nước nhất là từ khi đất nước chuyển sang thời kỳ đổi mới với nền kinh tế thị trường, các hoạt động kinh tế thương mại dịch vụ của Mỹ Độ đã có những chuyển biến thay đổi rõ rệt.

Phố xá được kéo dài từ đầu cầu xuống đến tận Ba Đa, các hồ ao ven đường được san lấp, nhiều nhà cao tầng được xây dựng, có nhiều cửa hàng phục vụ xây dựng và phục vụ sinh hoạt cho nhân dân như hàng tạp hoá, bánh kẹo, kinh doanh công cụ sản xuất cơ khí, điện tử, điện lạnh, vật liệu xây dựng, may mặc, thực phẩm ăn uống... Đầu cầu có chợ tạm đông nhất vào buổi sáng sớm và buổi chiều tối.

Ngoài phố còn có các trụ sở UBND phường, trạm y tế, trường mầm non, các tổ dân phố đã có nhà văn hoá...

Làng Mỹ Độ ngày nay nghề ép dầu, trồng dâu nuôi tằm không còn, song các ngành thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế đang chuyển hướng công nghiệp hoá, đã có nhiều hộ nông nghiệp nuôi thuỷ sản kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm. Một số cửa hàng kinh doanh dịch vụ chăn nuôi và xay sát ngô gạo đã hình thành.

Khu dân cư đã được mở rộng đến tận lò vôi thành tổ dân phố số 3, trong đó có một số công ty doanh nghiệp như Xí nghiệp chế biến đồ gỗ, Công ty cổ phần giấy xuất khẩu ...

Những chuyển biến trên đã góp phần làm thay đổi cơ bản diện mạo của một làng Đò trước đây. Đời sống dân cư cũng ngày được cải thiện và nâng cao, hộ nghèo giảm dần, năm 2007 chỉ còn 12 hộ.

 

 

Chương I

TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH KHAI-

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

 

            I. TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẦU TIÊN TẠI MỸ ĐỘ

Văn Chỉ : 

Trước đây Văn chỉ được xây dựng bên cạnh chùa Mỹ Độ, có kiến trúc 5 gian 2 tầng mái, khung gỗ lim, mái lợp ngói, cửa trấn song con tiện. Văn chỉ thờ Đức Khổng tử và các danh nhân khoa bảng của địa phương thời phong kiến, là nơi tế thần và đàm đạo chữ nghĩa văn thơ.

Thời Pháp thuộc, Văn chỉ là nơi mở các lớp sơ đẳng tiểu học ( trường tiểu học đầu tiên của Mỹ Độ). Nhiều người đã từng học ở đây nay đã thành danh, thành tài, đã tham gia kháng chiến, kiến quốc ở mọi miền đất nước.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Mỹ Độ chỉ có một trường Tiểu học sơ đẳng (còn gọi là sơ học , hương học) có 4 lớp: đồng ấu lớp năm, lớp tư, lớp ba (enfantin, préparatoire, élémentaire) thì lấy bằng sơ học yếu lược với các môn chính tả, toán đố 4 phép tính, luận và vấn đáp các môn học kể cả việc tình nguyện thi tiếng Pháp, tiếng Hán.

Muốn học tiếp phải sang bên tỉnh học trường tiểu học toàn cấp (kiêm bị, học 3 năm: Nhì năm thứ nhất, nhì năm thứ hai, nhất (moyen 1 erannée, moyen 2èannée, supérieur) để thi lấy bằng sơ học Pháp Việt với các môn Chính tả, luận văn bằng tiếng Pháp, Toán đố, Vẽ hoặc Nữ công, vấn đáp bằng tiếng Pháp. Muốn học tiếp nữa phải xuống Bắc Ninh hoặc ra Hà Nội thi vào trường trung học bảo hộ, học xong trường này mới được dự thi lấy bằng Tú tài bản xứ phần một và năm sau thi tiếp để lấy bằng Tú tài toàn phần.

Trường Tiểu học sơ đẳng Mỹ Độ ở khu vực văn chỉ chùa Mỹ Độ có 4 lớp với vài chục học sinh, các thầy giáo đã dạy học là các ông giáo Quả, giáo Nhiếp, giáo Mộc, giáo Phi, giáo Lũng, giáo Tùng, giáo Bích….

Học sinh trường làng chủ yếu là con các gia đình khá giả, một số được đi học tiếp để lấy bằng sơ học Pháp Việt, một số rất ít được đi học tiếp thi lấy bằng tú tài hoặc đi học các trường Bách Nghệ Hải Phòng, Bách Nghệ Hà Nội…còn lại phần lớn đều ít học chỉ học đến sơ học hoặc không biết chữ.

Qua hai cuộc kháng chiến, hiện nay công trình này đã bị phá bằng không còn dấu vết.

II. TRONG CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945.

Mỹ Độ tuy là đất ăn học, song chỉ có một số ít người được học hết bậc trung học, thi lấy bằng tú tài. Một số người phải thi vào học các lớp dạy nghề như trường Kỹ Nghệ Hải Phòng, trường Kỹ Nghệ Hà Nội…hoặc phải đi làm hương sư, một số người làm ký sự, phán sự, thừa sự cho chính quyền Pháp.

Chính trong môi trường này, giữa những năm tháng phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo phát triển mạnh mẽ đã ảnh hưởng lớn đến các tầng lớp học sinh trí thức của Mỹ Độ.

Ở Nhà máy Trường Thi vào năm 1939-1940 các ông Ngô Văn Sách, Ngô Hữu Qũy, Ngô Hữu Giám đã tham gia cuộc đình công của công nhân. Các ông Ngô Quý Từ, Ngô Quý Du, Ngô Tiến Dung, Ngô Trí Thắc…học ở các trường Hà Nội đều được ảnh hưởng của những tư tưởng cách mạng tiến b. Ông Ngô Văn Chương, ông Ngô Trí Nhạ học xong bậc tiểu học đi làm Hương sư, dạy ở nhiều nơi như Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng được tiếp xúc với nhiều người làm cách mạng nên đã sớm giác ngộ tham gia cách mạng. Các ông Ngô Văn Viên, Ngô Văn Chỉnh buôn bán Lạng Sơn, Cao Bằng được chứng kiến và tiếp xúc với phong trào cách mạng nên tuy là tư sản nhưng cũng sớm giác ngộ theo cách mạng. Chính những người này, trong cao trào cách mạng trước khởi nghĩa đã tìm đến Việt Minh.

Từ đầu năm 1945, phong trào cách mạng ở Bắc Giang nói chung và tỉnh lỵ Phủ Lạng Thương cũng như khu vực ven thị xã phát triển khá nhanh vào khoảng tháng 4, tháng 5 năm 1945 Mặt trận Việt Minh và đội tự vệ được thành lập ở Song Khê, ngày 2-6-1945 được thành lập ở Tân Mỹ.

Các đồng chí Ninh Văn Phan, Hồ Công Dự và các cán bộ mặt trận được hai đồng chí cử về như thầy giáo Ninh Văn Quân người ( Song Khê ), thầy giáo Hoàng Đình Thi người Tân Mỹ đã bí mật tiếp xúc và tuyên truyền giác ngộ các ông Ngô Quý Từ, Ngô Trí Nhạ, Ngô Trí Thắc, Ngô Hữu Diễm….vào tổ chức Việt Minh. Từ những ông này đã tiếp tục tuyên truyền giác ngộ giới thiệu với Việt Minh các ông Ngô Văn Chỉnh, Ngô Văn Chương, Ngô Quý Du, Nguyễn Văn Quýnh, Phan Văn Hạp, Ngô Văn Tá, Phan Văn Hiệu….

III. GIAI ĐOẠN 1945-1954.

Sau ngày cách mạng thành công hơn 90% dân số cả nước bị mù chữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học:

“Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ”

Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và kế hoạch của trên, chính quyền và mặt trận Việt Minh Mỹ Độ đã phát động phong trào bình dân học vụ, phong trào người biết chữ dạy người không biết chữ, thầy giáo không lương, người biết nhiều dạy người biết ít, con cháu dạy cho bố mẹ ông bà, chồng dạy vợ, anh dạy em…

Từ trong làng ngoài phố, ở các đình, điếm, văn chỉ chùa, các nhà dân rộng rãi, cứ có từ 6-10 người học đều trở thành lớp học bình dân học vụ…, thu hút mọi tầng lớp nhân dân đi học. Tối đến nghe tiếng trống tiếng kẻng là mọi người trẻ già, trai gái, từ những người nông dân lam lũ đến những em bé nhà nghèo thất học, lại tưng bừng đến lớp với ngọn đền dầu leo lét, ghế ngồi và quyển sách cầm tay. Từ lớp học râm ran tiếng đánh vần học bài:

I tờ có móc cả hai

I ngắn có chấm tờ dài có ngang

Trên khắp các ngả đường, nơi công cộng đều có các khẩu hiệu “Chữ là Ngọc, thóc là Vàng” “Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ nạn dốt”. Nhiều nơi tổ chức hỏi chữ ngoài chợ ai đọc được thì đi cổng chính, ai không đọc được thì đi cổng phụ (gọi là cổng mù) các đoàn thể cứu quốc tổ chức diễn kịch, ca hát, văn nghệ tuyên truyền cho bình dân học vụ, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ nêu khẩu hiệu: “Không lấy vợ, lấy chồng mù chữ”.

Phong trào bình dân học vụ chẳng những đã thu hút mọi tầng lớp nhân dân đi học mà còn tạo điều kiện cho nhiều người có học tham gia dạy bình dân học vụ, từ đó đã trưởng thành trong đường đời như ông Ngô Trí Nhạ, Nguyễn Văn Quýnh, Ngô Văn Chương, Ngô Văn Nghiên….

Ở xã Tân Mỹ chỉ trong 6 tháng đã có 612 người theo học thoát nạn mù chữ, có xóm chỉ có 6-10 người cũng thành lớp học (trích tư liệu bình dân học vụ Bắc Giang, nói về Tân Mỹ 1946) xã Tân Mỹ cũng là đơn vị trọng điểm của huyện là xã xoá được nạn mù chữ đầu tiên của tỉnh và huyện (tư liệu Bắc Giang năm 1947).

Tháng 11 năm 1945, tỉnh mở tại Phủ Lạng Thương lớp đào tạo cán bộ bình dân học vụ cho cả Bắc Giang. Tháng 5 – 1946, trong dịp về thăm thị xã Phủ Lạng Thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ cán bộ của Ban bình dân học vụ thị xã. Người đã ghi vào sổ lưu niệm “cố gắng chống giặc dốt cho đến thắng lợi cuối cùng”.

Từ phong trào này, ông Ngô Trí Nhạ đã được xã Tân Mỹ cử đi dự lớp đào tạo cán bộ giáo dục mà sau này trở thành cán bộ Ty bình dân học vụ, rồi Trưởng ty giáo dục tỉnh Bắc Giang ( 1960 – 1967 ), ông Nguyễn Văn Quýnh cũng trở thành Phó trưởng ban bình dân học vụ huyện Yên Dũng (10-1946), Trưởng ban bình dân học vụ huyện Yên Thế (1-1953).

Như vậy chỉ trong một thời gian ngắn từ tháng 9 – 1945 đến tháng 12 năm 1946, dưới sự lãnh đạo của mặt trận Việt Minh, chính quyền và các đoàn thể nhân dân Mỹ Độ đã từng bước vươn lên, vượt mọi khó khăn, góp phần đẩy lùi nạn đói, tham gia tích cực vào phong trào diệt giặc dốt, ngăn chặn khiêu khích phá hoại của địch và bọn phản động, xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang, mở rộng và củng cố các đoàn thể quần chúng, bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ. Những thành tích đó đã tạo điều kiện vững chắc cho cán bộ, nhân dân Mỹ Độ vững vàng bước vào cuộc chiến đấu mới gay go ác liệt chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng quê hương.

 

Chương II

CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

( 1946 – 1954 )

I. GIAI ĐOẠN TỪ 12-1946 ĐẾN 7-1949

Ở Mỹ Độ sau ngày quân Pháp tấn công lên Việt Bắc, nhiều gia đình ở Mỹ Độ đã tản cư lên vùng Tân Yên, Yên Thế và Nội Hoàng, Phúc Long, Phúc Tằng chỉ còn một số ít người trong gia đình ở lại.

Ngay sau khi địch rút khỏi thị xã Bắc Giang dưới sự lãnh đạo của chi bộ đảng, chính quyền xã Tân Mỹ nhân dân Mỹ Độ đã lần lượt trở về tu sửa xây dựng lại nhà cửa bị địch đốt phá, tiếp tục làm ăn buôn bán tăng gia sản xuất, chuẩn bị đối phó với những âm mưu mới của địch.

Công tác văn hoá xã hội cũng được chính quyền quan tâm chú ý. Các lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hoá buổi tối được tổ chức dạy ở các điếm  thôn.

II- GIAI ĐOẠN TỪ 7-1949 ĐẾN 8-1954.

Bước sang năm 1949 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới. Quân ta liên tiếp tấn công địch và giành nhiều thắng lợi, quân địch ngày càng lún sâu vào thế bị động lúng túng. Sau 1 năm 7 tháng sống trong cảnh yên ổn làm ăn, cuộc sống của nhân dân Mỹ Độ mới bắt đầu được hồi phục thì đến nay lại phải lâm vào cảnh loạn lạc.

Nhận thấy tình hình địch sẽ chiếm đóng lâu dài, hơn nữa chúng tiến hành càn quét mở rộng phạm vi chiếm đóng, nên Đảng, chính quyền đã vận động nhân dân tản cư chuyển lên vùng tự do ở Yên Thế, Tân Yên, Sỏi, Bố Hạ để ổn định sinh sống, tìm kế sinh nhai. Trường học tạm thời đóng cửa.

Từ đầu năm 1950 đời sống của nhân dân các gia đình tản cư gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, nguy cơ thiếu ăn và đói đã cận kề. Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ Bắc Giang chủ trương cho dân hồi cư để phục hồi sản xuất, giải quyết khó khăn về đời sống và mở rộng cơ sở trong vùng tạm chiếm.

Từ tháng 5- 1950, nhân dân Mỹ Độ lần lượt hồi cư. Trong thời gian này, sau khi thành lập phân khu, địch tăng cường quân ở Phủ Lạng Thương, ở Mỹ Độ dồn ép đồng bào giáo dân tập trung tại Mỹ Độ, nên phố Đò trở nên đông đúc ngột ngạt, ngoài phố và trong các ngõ xóm chật ních các gia đình vợ con lính nguỵ, đồng bào theo đạo các nơi tập trung về đây. Cuối năm 1951 địch đã thực hiện phát quang các làng xóm thực hiện vành đai trắng không người, ngoài vành đai trắng là vùng tự do, bên trong vành đai trắng là vùng quy thuận. Những gia đình có điều kiện thì cho con theo học trường tiểu học bên tỉnh ( phải học theo tiếng Pháp), đa phần con em nhân dân không được học.

Ngày 7-5-1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn bị tiêu diệt. Chiến thắng vĩ đại này làm nức lòng quân dân cả nước và bè bạn năm châu, làm cho binh lính địch khắp nơi hoang mang rệu rã.

Trong suốt 9 năm kháng chiến trong đó có 5 năm bị địch chiếm đóng, nhân dân Mỹ Độ đã chịu nhiều đau thương hy sinh mất mát, ba lần tản cư chạy địch, nhà cửa, đình chùa, trường học bị đốt phá nhiều lần, ruộng vườn hoang phế, của cải bị cướp đoạt mất mát, có trên 10 người bị giết hại, hàng chục người bị tra tấn, tù đầy, nhiều gia đình đã phải bỏ ruộng vườn, nhà cửa tản cư lên vùng tự do để sinh sống. Nhân dân Mỹ Độ đã không tiếc của cải, máu xương vì độc lập tự do của Tổ quốc.

 * *  *  *  *

Chương III

CÔNG TÁC GIÁO DỤC TỪ KHI HÒA BÌNH LẬP LẠI (1954 - 1965)

 

Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ đã kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cực kỳ gian khổ, anh dũng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị. Trước tình hình đó, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 9 năm 1954 đề ra đường lối, nhiệm vụ cho giai đoạn cách mạng mới của cả nước và nhiệm vụ trước mắt cho từng miền. Đối với miền Bắc, Nghị quyết chỉ rõ: "Phải nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế và hoàn thành cải cách ruộng đất".

I. CÔNG TÁC GIÁO DỤC SAU NGÀY HOÀ BÌNH LẬP LẠI

Mỹ Độ vốn là thôn Trung Độ của xã Mỹ Cầu tách ra thành xã độc lập từ năm 1890. Trước tháng 8/1945, Mỹ Độ là một trong bẩy xã của tổng Mỹ Cầu, phủ Lạng Giang. Hoà bình lập lại (7/1954), Mỹ Độ chuyển về thị xã Phủ Lạng Thương, thành lập khu phố Mỹ Độ.

Song song với công tác khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, chính quyền rất quan tâm đến công tác giáo dục, y tế, văn hoá xã hội.

Về giáo dục: Khu phố Mỹ Độ đã thành lập trường để đón nhận con em khu phố và các địa phương xung quanh đến học. Trường được gọi là "Trường làng", do thầy giáo Nguyễn Luỹ làm hiệu trưởng. Giáo viên của trường ngoài thầy hiệu trưởng có 3 thầy cô là cô Hợi, thầy Sáu, thầy Chiến.

Năm học 1954 - 1955, trường có 3 lớp: 1 lớp vỡ lòng, 1 lớp một, 1 lớp hai

Năm học 1955 - 1956, trường có 2 lớp: 1 lớp một, 1 lớp hai.

Năm học 1956 - 1957, trường có 3 lớp: 2 lớp một, 1 lớp hai.

Ngoài học sinh Mỹ Độ còn có học sinh Đa Mai, Thanh Mai, Song Khê.

Từ năm 1956, phong trào bình dân học vụ bắt đầu phát triển mạnh. Làng Mỹ Độ, phố Mỹ Độ, phố Tân Thành đều mở lớp bình dân học vụ. Hàng trăm người đã thoát nạn mù chữ.

Sau 3 năm (1955 - 1957) tiến hành hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, chính quyền và nhân dân khu phố Mỹ Độ đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng: Kinh tế từng bước được khôi phục, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện một bước, nếp sống văn hoá mới bắt đầu hình thành, chính quyền và các đoàn thể được củng cố, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đó là những điều kiện thuận lợi để nhân dân khu phố Mỹ Độ bước vào thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá.

II. THÀNH LẬP TRƯỜNG CẤP I LÝ TỰ TRỌNG

Từ ngày 01/10/1959 thị xã Phủ Lạng Thương được đổi tên thành thị xã Bắc Giang. Đến năm 1960, khu phố Mỹ Độ đã xoá nạn mù chữ cho những người trong độ tuổi. Phong trào học bổ túc văn hoá vẫn được duy trì. Một số lớp bổ túc văn hoá mở ra ở các tiểu khu cho những người không có điều kiện theo học phổ thông. Giáo dục phổ thông có bước ngoặt lớn.

Năm học 1957 - 1958, Trường cấp I Lý Tự Trọng được thành lập. (trường Tiểu học bây giờ). Trường có 2 phòng học lợp ngói ( do ông Tuân vận động nhân dân đóng góp xây dựng), có 6 lớp: 2 lớp một, 2 lớp hai, 1 lớp ba và 1 lớp bốn. Trường do thầy giáo Trần Việt Hùng làm hiệu trưởng. Số học sinh các cấp đều tăng.

Từ năm 1960, cùng với công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế, sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế cũng được đẩy mạnh, góp phần phát triển sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân. Sau khi hoàn thành thanh toán nạn mù chữ, công tác bổ túc văn hoá của khu phố tuỳ từng thời gian có thăng trầm nhưng vẫn được duy trì. Từ cuối năm 1963, phong trào bổ túc văn hoá ở khu phố lại phát triển mạnh. Hầu hết cán bộ chủ chốt của các tiểu khu, hợp tác xã, các đoàn thể, các ngành trong đối tượng đi học đều sắp xếp công việc để đi học.

Trường cấp I Lý Tự Trọng có 8 lớp (mỗi khối 2 lớp) với gần 300 học sinh.

Sách báo đã dần dần đi vào quần chúng. Hưởng ứng khẩu hiệu: "Nhiệm vụ nào sách ấy, vùng nào sách ấy, lúc nào sách ấy, người nào sách ấy". các hợp tác xã đã trích kinh phí xây dựng tủ sách, mỗi tủ sách có hàng trăm cuốn phục vụ các đối tượng khác nhau.

Đầu năm 1964, ở miền Nam, chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ đã bị thất bại. Để cứu vón tình thế, đế quốc Mỹ cho quân vào miền Nam, thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ" dùng hải quân và không quân hoạt động phá hoại miền Bắc.

Chương IV

CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRONG CHIẾN TRANH CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ (1965 - 1975)

1. Sơ tán trường tiểu học.

Từ đầu năm 1965, không quân và hải quân Mỹ đánh phá liên tục và ngày càng ác liệt từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc.

Trước tình hình đó, tháng 1/1965, Hội đồng Quốc phòng họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định nhiệm vụ của miền Bắc lúc này là tăng cường công tác phòng thủ, trị an, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu, tích cực xây dựng, củng cố miền Bắc về mọi mặt và chi viện đầy đủ, kịp thời cho cách mạng miền Nam.

Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, từ đầu năm 1965, toàn khu phố đã dấy lên các phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước sôi nổi. Đoàn Thanh niên phát động phong trào "3 sẵn sàng" (sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần), Hội Phụ nữ phát động phong trào "3 đảm đang" (đảm đang sản xuất, đảm đang gánh vác công việc gia đình, đảm đang chiến đấu và phục vụ chiến đấu), nông dân, xã viên với phong trào "tay cày tay súng", các trường học có phong trào "hai tốt ", thiếu nhi có phong trào "nghìn việc tốt".

Ngày 10/4/1965, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết về "công tác phòng không nhân dân". Nghị quyết chỉ rõ: "Phải làm tốt công tác phòng không nhân dân, không để kẻ địch uy hiếp tinh thần nhân dân ta, hạn chế sự thiệt hại ở mức thấp nhất". Ngày 27/7/1965, Uỷ ban hành chính tỉnh triệu tập hội nghị cán bộ lãnh đạo huyện thị và các ngành trong tỉnh bàn về công tác phòng không sơ tán.

Sau khi có Nghị quyết của Tỉnh uỷ, đầu tháng 7/1965, Thị uỷ Bắc Giang ra Quyết định thành lập "Ban phòng không nhân dân". Thị uỷ, Uỷ ban hành chính và Ban phòng không nhân dân thị xã nhận định: Mỹ Độ là một trong những trọng điểm máy bay Mỹ sẽ đánh phá ác liệt. Từ đầu tháng 8/1965, Ban phòng không nhân dân thị xã phối hợp với chi bộ vận động nhân dân phố Mỹ Độ và phố Tân Thành triệt để sơ tán lên Cống Đất (đường Thanh Mai đi xã Nghĩa Trung), cây số 4 đường 34, xóm Thuyền (xã Dĩnh Trì), tập trung đông nhất là Cống Đất. Nhân dân sơ tán ở Cống Đất thành lập tiểu khu Thanh Trung.

 Trường cấp I sơ tán lên Cống Đất.

Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại ác liệt, nhưng sự nghiệp giáo dục của Mỹ Độ vẫn được giữ vững và có bước phát triển.

Trường cấp I Lý Tự Trọng sơ tán lên đồi Cống Gạo, xã Đa Mai. Tại địa điểm mới, thầy trò nhà trường cùng nhân dân đã bỏ ra hàng nghìn ngày công để dựng trường, đào hầm và giao thông hào từ trong lớp ra hầm để khi có báo động máy bay chạy ra không bị lộ.

Mặc dù vậy, tinh thần giảng dạy của giáo viên cũng như tinh thần học tập của học sinh vẫn được nêu cao và đạt kết quả tốt. Trong những năm này, số lớp học gồm 7 lớp (1 lớp một, 2 lớp hai, 2 lớp ba và 2 lớp bốn). Trường liên tục đạt "Trường tiên tiến cấp thị" và được Phòng Giáo dục thị xã khen thưởng là trường có chất lượng giáo dục và phong trào Đoàn, Đội tốt. Giáo viên dạy giỏi có cô Thu, cô Đức, cô Hồi, cô Toan, cô Nhất, cô Bình. Hiệu trưởng là thầy Đoàn Như Tạc

 

2. Trở về trường cũ

Sau ngày đất nước thống nhất, nhà trường từ nơi sơ tán trở về trường cũ. Số học sinh đã tăng lên 12 lớp, mỗi lớp 50-60 học sinh.

Trường cấp II: Ngày 1/8/1965, trường cấp II Đa Mai được thành lập, đặt tại đồi Cốc, xã Đa Mai, là ngôi trường chung cho học sinh Mỹ Độ và Đa Mai. Học sinh Mỹ Độ phải đi bộ 4km mới tới trường.

Trường cấp 1 vẫn học tại trường cũ.

Năm 1973, đế quốc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, nhân dân từ nơi sơ tán trở về nhà cũ. Để phù hợp với địa bàn, tháng 8/1974, Ty Giáo dục Hà Bắc ra Quyết định thành lập trường cấp II Minh Khai. Trường đặt ở khu Đồng Lều là những gian nhà kho và sân kho của đội 3 hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Độ.

 

Chương V

CÔNG TÁC GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1976 - 1985)

 

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nước ta bước vào một thời kỳ mới, cả nước độc lập thống nhất cùng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Công tác giáo dục: Thực hiện cải cách giáo dục về sắp xếp lại trường lớp, tháng 8/1978, Trường cấp I Lý Tự Trọng sáp nhập với Trường cấp II Minh Khai thành Trường cấp I, II Minh Khai( địa điểm trường tiểu học Minh Khai bây giờ). Điểm chính của trường đặt tại Trường cấp II Minh Khai( khu sân bóng hiện nay của trường TH Minh Khai). Điểm lẻ là cơ sở của Trường cấp I Lý Tự Trọng ở đầu làng Mỹ Độ. Năm học 1978 - 1979, trường có 24 lớp.

Tháng 9/1981, trường cấp I, II Minh Khai đổi tên thành trường phổ thông cơ sở Minh Khai.

Năm học 1982 - 1983 có 958 học sinh

Năm học 1983 - 1984 có 995 học sinh

Tình hình kinh tế của cả nước cũng như của tỉnh trong những năm này rất khó khăn, do vậy việc trang bị phương tiện, thiết bị dạy học còn rất hạn chế. Mặc dù vậy, dưới sự lãnh đạo của chi bộ và ban giám hiệu, tập thể cán bộ, giáo viên nhà trường vẫn hăng say làm việc, quyết tâm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Dù khó khăn đến đâu vẫn phải thi đua dạy tốt, học tốt". Tỷ lệ học sinh thi cuối cấp đỗ từ 95-98%. Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào Trường cấp III Ngô Sĩ Liên khá cao, nhiều học sinh tham dự và đạt kết quả cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp thị, cấp tỉnh. Các hoạt động của Đảng, của Đoàn, của Đội trong nhà trường được duy trì và phát huy tác dụng tốt. Chi bộ Đảng nhà trường gồm 8 đảng viên. Nhà trường luôn chú trọng quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo học sinh vừa có trí lực, vừa có thể lực, dạy văn hoá gắn với rèn luyện đạo đức, nhân cách. Nhiều năm nhà trường đạt danh hiệu tiên tiến.

 

Chương VI

CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG (1986 - 2005)

 

Sau 10 năm Tổ quốc thống nhất, cả nước cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng mắc không ít sai lầm, khuyết điểm. Những sai lầm, khuyết điểm cùng với nhiều nguyên nhân khác, đặc biệt là sự bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch làm cho đất nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng trên các mặt kinh tế - xã hội.

Song song với lãnh đạo phát triển kinh tế, Đảng bộ phường chú trọng lãnh đạo thực hiện các chính sách giáo dục,  văn hoá - xã hội.

Trường phổ thông cơ sở Minh Khai là đơn vị đầu tiên của thị xã Bắc Giang khởi xướng cuộc vận động "Dân chủ hoá, công khai hoá", đồng thời là đơn vị sớm có phong trào "Giúp bạn nghèo". Trường cũng là đơn vị dẫn đầu phong trào "Bảo vệ đường sắt quê em", 100% học sinh nhà trường đã hưởng ứng và tham gia phong trào này, tiêu biểu là em Nguyễn Văn Cường học sinh lớp 4A. Trên đường đi học về, Cường nhìn thấy em Nguyễn Thị Hường (6 tuổi) đang đi trên đường ray, cách em 200 mét, một đoàn tầu đang tiến đến. Không sợ nguy hiểm, Cường chạy lên bế em Hường ra khỏi đường tàu. Câu chuyện về tấm gương dũng cảm của Nguyễn Văn Cường đã được đăng trên báo Đường sắt và báo Thiếu niên Tiền phong. Em Nguyễn Văn Cường đã được Tỉnh Đoàn Bắc Giang, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng cục Đường sắt tặng Giấy khen.

Năm học 1992 - 1993, các khối 6, 7, 8, 9 của trường phổ thông cơ sở Minh Khai và Đa Mai được tách khỏi hai trường để hợp nhất thành trường Trung học cơ sở Lý Tự Trọng. Địa điểm của trường đặt tại khu Đồng Găng (xã Đa Mai). Còn lại các khối từ lớp 1 đến lớp 5 học tại địa điểm cũ, trường đổi tên thành trường tiểu học Minh Khai.

Với chủ trương "xã hội hoá giáo dục", Đảng bộ đã thường xuyên chỉ đạo vận động nhân dân đầu tư cho giáo dục, trong đó việc xây dựng cơ sở vật chất được chăm lo thích đáng. Hoạt động giáo dục đi sâu vào nâng cao chất lượng toàn diện. Các chỉ tiêu kế hoạch của ngành thuộc từng cấp học được giữ vững và phát triển.

    Trường tiểu học Minh Khai liên tục đạt danh hiệu trường tiên tiến. Ba tổ (tổ tự nhiên, tổ 1, tổ 4 + 5) đạt danh hiệu Tổ Lao Động xã hội chủ nghĩa.

IV. TỪNG BƯỚC THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ, TIẾP TỤC VỮNG BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG ĐỔI MỚI (1996 - 2005)

Thực hiện Nghị quyết Trung ương II (khoá VIII) về giáo dục - đào tạo, hệ thống trường, lớp các bậc học được sắp xếp hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục đào tạo trên địa bàn phường.

Năm học 2003 - 2004, trường có 10 lớp, 313 học sinh. Số học sinh tốt nghiệp tiểu học năm học 2003 - 2004 đạt 100%.

Đội ngũ giáo viên nhà trường ngày càng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; 100% được đào tạo cơ bản, có đạo đức và chuyên môn vững. Số giáo viên dạy giỏi trường tiểu học chiếm 20%.

Công tác khuyến học tiếp tục được mở rộng đến mọi gia đình, khơi dậy được lòng ham học, góp phần vào việc thực hiện xã hội hoá giáo dục ở phường. Phường đã thành lập Hội khuyến học, Trung tâm học tập cộng đồng.

Năm 2003-2004: TS học sinh: 313 hs.

      XL Văn hoá: -  Giỏi: 21,7%

                                Khá: 42,49%

                                TB: 35,81%

                                 Yếu: 0%

          Năm 2004-2005: TS học sinh: 311 hs.

              XLVH:-  giỏi: 68hs tỷ lệ: 21,86%

                              Khá: 133 hs----: 42,78%.

                               TB: 110hs------: 35,36%

                                Yếu: 0%

  XLđạo đức:  Tốt: 280hs ---90,04%

                        Khá tốt: 31hs-----9,96%     

CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN (2006-2013)

Năm 2005-2006: TS học sinh: 284 hs.

 

                             XL văn hoá:       Giỏi: 18,3%

                                                       Khá: 38,38%

                                                        Tb: 42,62%

                                                       CY: 0,7%

                            XLĐạo đức: Tốt: 270hs ---95,07%

                                              Khá tốt:14 ---4,93%

 

          Năm 2006-2007: TS HS 250 hs

+Xếp loại văn hoá:

                              Giỏi: 11,6%

                              Khá: 41,2%

                              TB: 37,6%

                               CY: 9,6%

+ Xếp loại đạo đức:

                        - Tốt: 246 hs đạt 98,4%   - chỉ tiêu: 90% ä

                       - Khá tốt : 4 hs đạt 1,6%  - chỉ tiêu: 10 %

                       - Không có học sinh vi phạm pháp luật.

Năm 2007-2008:  TS: 237 hs

+ Xếp loại đạo đức:

     - Thực hiện đầy đủ: 232 em đạt 97,9%-- chỉ tiêu: đạt 90 %

     -Thực hiện chưa đầy đủ : 5 em  tỷ lệ 2,1%-  chỉ tiêu:10 %

     - Không có học sinh vi phạm pháp luật.

+ Xếp loại học lực:

- Giỏi: 45 hs đạt: 18,9% - chỉ tiêu: Giỏi 15%

 - Khá: 117 hs đạt: 49,3% - chỉ tiêu 25%

 - Trung bình: 67 hs đạt: 28,43 % - chỉ tiêu: 52%

  - Yếu: 8 hs tỷ lệ: 3,37% - chỉ tiêu: 8 %

 + Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%

 

Năm 2008-2009: TS 218 em

+Xếp loại đạo đức:

       - Thực hiện đầy đủ: 212 đạt: 97,2% - chỉ tiêu:  90% ä

       - Thực hiện chưa đầy đủ: 6 hs tỷ lệ: 2,8%-  chỉ tiêu:10 %

       - Không có học sinh vi phạm pháp luật.

+ Xếp loại học lực    

                                - Giỏi: 60 hs đạt: 27,5% - chỉ tiêu: Giỏi 20%

                              - Khá: 108 hs đạt: 49,3% - chỉ tiêu: 27%

                              - Trung bình: 38 hs tỷ lệ: 17,4% - chỉ tiêu: 47%

                              - Yếu: 6 hs tỷ lệ: 2,8% - chỉ tiêu: 6 %

+Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học:100%

Năm 2009-2010: TS 222 em

+Xếp loại đạo đức:

       - Thực hiện đầy đủ: 222 đạt: 100% - chỉ tiêu:  90% ä

       - Thực hiện chưa đầy đủ: 0 hs tỷ lệ: 0%-  chỉ tiêu:10 %

       - Không có học sinh vi phạm pháp luật.

+ Xếp loại học lực    

                                - Giỏi: 71 hs đạt: 27,5% - chỉ tiêu: Giỏi 20%

                              - Khá: 99 hs đạt: 49,3% - chỉ tiêu: 27%

                              - Trung bình: 39 hs tỷ lệ: 17,4% - chỉ tiêu: 47%

                              - Yếu: 12 hs tỷ lệ: 2,8% - chỉ tiêu: 6 %

+ Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học: 39/39 -100%

Năm 2010-2011: TS 222 em

+Xếp loại đạo đức:

       - Thực hiện đầy đủ: 222 đạt: 100% - chỉ tiêu:  90% ä

       - Thực hiện chưa đầy đủ: 0 hs tỷ lệ: 0%-  chỉ tiêu:10 %

       - Không có học sinh vi phạm pháp luật.

+ Xếp loại học lực    

                              - Giỏi: 103/217  đạt: 47,5% - chỉ tiêu: Giỏi 33,5%

                              - Khá: 86/217  đạt: 39,6% - chỉ tiêu: 46,7%

                              - Trung bình: 25/217 tỷ lệ: 11,5% - chỉ tiêu: 16,9%

                              - Yếu: 3/217  tỷ lệ: 1,4% - chỉ tiêu: 2,9 %

+Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học: 39/39 -100%

Năm 2011-2012: TS 222 em

+Xếp loại đạo đức:

       - Thực hiện đầy đủ: 220 đạt: 100% - chỉ tiêu:  100%

       - Không có học sinh vi phạm pháp luật.

+ Xếp loại học lực    

- Giỏi ( HS giỏi): 125/220 = 56,8% (khá giỏi vượt 12,2%)

- Khá( Tiên tiến):    59/220 = 26,8%

- Trung bình:                 35/220 = 15,9%

- Yếu:                            1/220 = 0,5%        

Lên lớp thẳng: 219/220 = 99,5% ( vượt chỉ tiêu 0,4%)

Hoàn thành chương trình tiểu học: 49/49 = 100% ( đạt chỉ tiêu)

Năm 2012-2013: TS 216 em

+Xếp loại đạo đức:

       - Thực hiện đầy đủ: 216 đạt: 100% - chỉ tiêu:  100%

       - Không có học sinh vi phạm pháp luật.

+ Xếp loại học lực    

  • Giỏi ( HS giỏi):         119/216 = 55,1% ( chỉ tiêu 51,2%) vượt chỉ tiêu 3,9%

- Khá ( HS tiên tiến):   72/216 = 33,3% ( chỉ tiêu khá giỏi 85,5%; vượt 2,9%)

  • Trung bình:              25/216 = 11,6%

  • Yếu:                         0/216 = 0 %           ( chỉ tiêu 0,9%) vượt chỉ tiêu 0,9%

Lên lớp thẳng: 216/216 = 100% (  chỉ tiêu 99,1%) vượt chỉ tiêu 0,9%

Hoàn thành chương trình tiểu học: 35/35 = 100% ( đạt chỉ tiêu)

2. Kết quả tham gia các cuộc thi hàng năm đạt số giải:

 

Năm

HSG-TP

 VSCĐ

Cờ Vua

Đá Cầu

Aerôbic

ĐB-VN - ĐK-vẽ- CL

2004-2005

 

2 giải 3

1giải nhất

 

 

1 giải 3 MT

2005-2006

 

 

1 giải ba

 

 

2 giải 1,3 CL

2006-2007

1giải 3

 

1giải 3

1giải nhì

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2007-2008

 

 

 

 

 

1giải 3 ĐK

2008-2009

1giải KK

2giải 3

 

 

 

1giải 3 BĐMN

1giảinhì BGQE

2009-2010

0

1giải3 tỉnh

1 giải nhất TP; 2 giải nhì, 1 giải ba; 6 giải KK TP

0

0

giải 3 TP

giải nhất ATGT TP

giải 3 ATGT tỉnh

2010-2011

 

1 nhât tỉnh; 1 nhất, 2 nhì, 2 ba và 5 KK cấp TP

1 giải ba

 

 

giải KK ATGT, ba bóng bàn, ba điền kinh

2011-2012

1 giải KK olympic toán 5, 2 giải KK Violympic TP, 1 giải tin, 4 giải ba tiếng Anh cấp TP

1 nhât tỉnh; 1 nhất, 2 nhì, 3 ba và 3 KK cấp TP

 

 

 

 

2012-2013

1 giải KK Olympic toán 4, 1 giải nhì, 5 giải KK tiếng Anh cấp TP

1 nhì tỉnh; 1 nhất, 1 nhì và 4 KK cấp TP

 

 

 

2 giải 3 điền kinh, giải nhì tiếng hát tuổi hông, giải KK kể chuyện

 

 

 

 

 

 

 

3) Xây dựng đội ngũ

 

Năm

Số đảng viên

 GV đạt chuẩn

  Trên chuẩn 

TC-CT

GVGTP, tỉnh

2006-2007

8/18- 44,4

11- 61,1%

6 -33,3 %

 

4 - 22 %

2007-2008

12/21- 57 %

8/21- 38 %

12- 57%

 

3- 19 %

2008-2009

12/20 – 60%

7/20 -35%

12/20-60 %

 

4- 20 %

2009-2010

13/21- 61,9%

3/21- 14,3%

17/21- 80,9%

3/21- 14,3%

6 – 28,5%

2010-2011

14

14/14=100%

12/14=85,7%

3/20= 15%

6/14=42,8%

2011-2012

15

16/16=100%

14/16=87,5%

3/22=13,6%

6/16=37,5%

2012-2013

15

16/16=100%

15/16=93,7%

3/22=13,6%

8/16=50%

 

   

KẾT LUẬN

Qua mỗi giai đoạn lịch sử Trường Tiểu học Minh Khai – Phường Mỹ Độ đều có những bước thăng trầm nhất định, nhưng có một điều không thay đổi đó là lòng yêu nghề, mến trẻ của những người làm thầy. Mặc dù có những thời kỳ vô cùng khó khăn gian khổ nhưng họ vẫn cố gắng khắc phục, nêu cao tinh thần giảng dạy, đem tri thức đến cho con em Mỹ Độ, xứng đáng với lòng tin yêu, quý mến của nhân dân Mỹ Độ và xứng danh mang tên người anh hùng dân tộc Nguyễn Thị Minh Khai.

Trên đây là những gì chúng tôi đó tìm hiểu và sưu tầm được từ thời Pháp thuộc đến nay, tuy chưa được chi tiết và đầy đủ nhưng cũng phần nào đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc trong việc nghiên cứu và tìm hiểuvề lịch sử Trường Tiểu học Minh Khai.

Trường chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng chí và bạn đọc để tập tư liệu thêm hoàn chỉnh hơn.

                                    Xin trân thành cảm ơn!